T H Í C H X Â Y C H Ù A

Mái chùa che chở hồn dân tộc – Nếp sống muôn đời của tổ tông…

Hình ảnh cuộc đời Đức Phật – từ Đản Sinh tới Niết Bàn

Posted by Admin on 01.10.2011

rung-thien-vien-khong4

Từ cung trời Đâu Xuất, Bồ Tát Hộ Minh – tiền sanh của Đức Phật Thích Ca – nhận lời thỉnh cầu của Phạm Thiên và Tứ Đại Thiên Vương giáng trần.

Lúc đó, hoàng hậu Ma-Da, mẹ của Ngài thọ thai. Bà nằm mộng thấy một con voi trắng từ núi vàng, núi bạc đến và mang cho bà một cành hoa sen.

Vào ngày trăng tròn tháng tư âm lịch, 566 trước tây lịch, Bồ Tát đản sanh ở vườn Lâm Tỳ Ni. Sau khi đản sanh, Ngài bước bảy bước, và mỗi bước có hoa sen nâng đỡ chân Ngài. Ngài tuyên bố rằng: “Ta là bậc Chí Tôn cao quý nhất giữa chư thiên và loài người” (“Thiên Thượng Địa Hạ – Duy Ngã Độc Tôn”).

Đạo sĩ Kaladevila viếng thăm, ông bật cười rồi lại khóc. Ông cười vì rồi đây nhân loại sẽ được hưởng ánh đạo vàng và khóc vì nghĩ rằng sau khi mình chết sẽ tái sinh vào cõi phi phi tưởng xứ không nghe được pháp màu!

Trong lễ Hạ Điền, Hoàng Tử Sĩ Đạt Ta (Siddhattha) ngồi thiền định và nhập định sơ thiền sau khi quán chiếu, suy xét sự khổ của chúng sinh bằng cặp mắt tuệ giác (…côn trùng bị lưỡi cày cắt đứt tung lên mặt đất, chim chóc thi nhau mổ xé … lỗi khổ nhọc của người nông phu…).

Hoàng tử cứu con thiên nga bị Đề Bà Đạt Đa bắn.

Hoàng tử Sĩ Đạt Ta (Siddhattha) trình diễn kỹ năng bắn cung bằng cách nhấc một cái cung mà không ai trong cuộc thi nhấc và kéo nổi.

Hoàng Tử Sĩ Đạt Ta thuần phục ngựa Kiền Trắc.

Hoàng Tử Sĩ Đạt Ta thành hôn với công chúa Da Du Đà La.

Ngày nọ, Hoàng Tử Sĩ Đạt Ta đi dạo và chứng kiến bốn cảnh tượng tại bốn cổng thành mà từ trước tới nay chưa bao giờ được chứng kiến vì sắc lệnh của đức vua không muốn Hoàng nhi trông thấy những cảnh tượng đó.

Bốn cảnh tượng đó là:

Người già – người bệnh – người chết – và một người cư sĩ (Sinh – Bệnh – Lão – Tử).

Trong ngày La Hầu La – con trai của Ngài chào đời. Sau yến tiệc chào mừng, Ngài thấy cảnh tượng nhàm chán thế sự – các cô vũ nữ đang mê say trong giấc ngủ đã biểu lộ những nét xấu xa. Hoàng Tử Sĩ Đạt Ta quyết định từ bỏ thế gian để xuất gia tu hành.

Hoàng tử  Sĩ-Đạt-Ta cùng người hầu Sa-Nặc (Channa) và ngựa Kiền-Trắc vượt sông Anoma đi xuất gia tìm đạo. Ngài cắt tóc ném lên không trung (Chư thiên đã nhận lấy xây tháp cúng dường trên cõi trời). Ngài trao áo choàng và gươm báu cho Sa-Nặc cùng ngựa Kiền-Trắc quay trở về.

Bồ tát tu học nơi ẩn sĩ A-la-la Ca-lam đạt đến cấp thiền Vô sở hữu xứ.
Nhưng Tất-đạt-đa cũng không tìm thấy nơi các vị đó lời giải cho thắc mắc của mình, nên đã đi tìm một vị thầy khác.

Nơi Ưu-đà-la La-ma-tử Ngài học đạt đến cấp Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Nhưng Tất-đạt-đa cũng không tìm thấy nơi các vị đó lời giải cho thắc mắc của mình, nên quyết tâm tự mình tìm đường giải thoát.

Ngài quyết tâm tự thiền định tìm đường giải thoát và có năm tỳ-kheo (năm anh em Kiều Trần Như) cùng đồng hành.

Quán chiếu thuyết Duyên khởi

Sau nhiều năm tu khổ hạnh gần kề cái chết, Tất-đạt-đa nhận ra đó không phải là phép tu dẫn đến giác ngộ, bắt đầu ăn uống bình thường, năm tỳ kheo kia thất vọng bỏ đi.

Nàng Sujata dâng Bồ tát bát cháo sữa bằng vàng. Nàng nghĩ rằng Ngài là thiên thần (vì tướng Ngài rất hảo tướng với 32 tướng tốt).

Sau khi thọ trai (dùng cơm), Ngài ném bát xuống dòng sông để phát nguyện.

Bồ Tát chiến thắng Ma Vương dưới cội cây Bồ Đề.

Ba nàng công chúa của Ma Vương cố dùng mỹ nhân kế để lôi cuốn Đức Phật, nhưng cuối cùng họ cũng thất bại hoàn toàn.

Sau 49 ngày thiền định — mặc dù bị Ma vương quấy nhiễu — Tất-đạt-đa đạt giác ngộ hoàn toàn ở tuổi 35. Từ thời điểm đó, Tất-đạt-đa biết mình đã là một bậc Giác ngộ (Tỉnh thức – Buddha – Phật), và biết rằng mình sẽ không còn tái sinh.

Hai thương buôn tên Tapussa và Bhallika cúng dường Đức Phật bữa cơm – và họ là hai người quy y nhị bảo đầu tiên.

Đức Phật gặp vị ẩn sĩ trên đường, vị này hỏi thầy của Ngài là ai? – Đức Phật nói ta không có thầy vì pháp mà Ngài đang có là do Ngài tự ngộ không thầy chỉ dạy. Vì quá chú trọng tới quan niệm thầy tổ nên vị này đã bỏ lỡ cơ hội học pháp của mình.

Đức Phật bắt đầu giảng pháp bằng cách trình bày con đường dẫn đến kinh nghiệm giác ngộ và giải thoát.
Trên cơ sở kinh nghiệm giác ngộ của mình, Đức Phật giảng Tứ diệu đế, Duyên khởi quy luật Nhân quả (Nghiệp). Tại vườn Lộc uyển ở Sarnath gần Ba-la-nại (Benares hay Varanasi), Đức Phật bắt đầu “chuyển Pháp luân” với những bài giảng đầu tiên.

Năm anh em Kiều Trần Như sau khi được Đức Phật khai sáng về con đường tu học của mình đã trở thành năm vị đệ tử đầu tiên của Đức Phật và là hạt nhân đầu tiên của Tăng-già.

Đức Phật thuyết pháp cho công tử Yasa. Sau đó Ngài cho Yasa và 54 người bạn xuất gia.

Cha mẹ vợ con của Yasa là những người quy y Tam Bảo đầu tiên.

Ðức Phật rời vườn Lộc-uyển đi về phía Nam đến xứ Ưu-lầu-tần-loa và hàng phục một vị tổ sư rất có uy tín của Ðạo thờ Lửa là ông Ma-ha Ca-Diếp.

Đức Phật nhiếp phục rắn lớn trong nhà thờ lửa của ẩn sĩ Uruvela kassapa (Ma-ha Ca-Diếp).

Ẩn sĩ Uruvela kassapa (Ma-ha Ca-Diếp) xin vào Tăng đoàn.

Hai người em của ông Ca-Diếp mang tất cả đồ đệ của mình là 1,250 vị xin quy y theo Phật, cắt tất cả râu tóc thả trôi theo dòng sông.

Nhớ lại lời hẹn xưa với vua Tần-bà-xa-la, Ngài đến xứ Ma-kiệt-đà vào thành Vương-xá để độ cho vua. Vua Tần-bà-xa-la gặp lại Ngài, vui mừng khôn xiết, truyền xây cất tịnh xá Trúc lâm, để thỉnh Phật và chư Tăng ở lại thuyết Pháp độ sanh.

Trong lúc Phật ở tịnh xá Trúc lâm, thì vua Tịnh-Phạn nghe tin Ngài đã thành Phật, truyền sứ-giả đi thỉnh Ngài về thành Ca-tỳ-la-vệ.
Nhưng 9 lần 9 sứ giả đi đều biệt tăm, không trở lại. Thì ra những người này khi đến Trúc lâm tịnh xá nghe Phật thuyết pháp, đã say mê quên sứ mạng của mình và xin thọ giới xuất gia. Lần thứ 10, Tịnh Phạn vương sai một cận thần thân tín là Ưu-Ðà-Di, mới thỉnh được Phật về.
Trên đường từ thành Vương-xá trở về Ca-tỳ-la-vệ, Ðức Phật đã thuyết pháp độ cho không biết bao nhiêu người. Về thành Ca-tỳ-la-vệ, Ngài ở lại 7 ngày. Mặc dù chỉ trong thời gian ngắn ngủi ấy, Ðức Phật đã cảm hóa tất cả dòng họ Thích và tất cả những người trong dòng họ này đều xin quy y và một số lớn xin xuất gia theo Phật, như các ông: Nan-Ðà, A-Nan-Ðà, A-Nậu-Lâu-Ðà, La-Hầu-La…

Công chúa Da Du Đà la chỉ tay bảo La Hầu La hãy chạy xuống và xin gia tài của cha con.

 

Đức Phật cho La Hầu La gia tài của mình không phải là tài sản thế gian mà là tài sản xuất thế gian. Ngài thu nhận La Hầu La vào Tăng đoàn.

Vua Tịnh-Phạn quá buồn khổ, sau đó Vua yêu cầu Đức Phật không cho phép giới tử xuất gia khi cha mẹ chưa đồng ý (trong trường hợp dưới 18 tuổi) . Đức Phật nhận lời.

 

Sau khi trở về thăm gia đình và quê hương, Ðức Phật cùng các đệ tử lại tiếp tục đi truyền Ðạo. Ngài đi đến thành Xá-Vệ là kinh đô nước Kiều-tát-la, thuộc quyền thống trị của vua Ba-tư-Nặc. Ở thành này có một vị đại thần tên là Tu-Ðạt-Ða, giàu lòng bố thí cho những kẻ bần cùng côi cút, nên có danh hiệu là Trưởng giả Cấp Cô Độc (chu cấp và bảo vệ những kẻ cô độc). Ông rất ngưỡng mộ Ðức Phật nên đã dùng rất nhiều vàng trong kho ra mua khu vườn rộng lớn của Thái tử Kỳ-Ðà để làm tịnh xá cho Phật và đệ tử của Ngài ở, thuyết pháp độ sanh.

Đức Phật giải quyết tranh chấp “nước trên cùng một giòng sông khi mùa khô cạn đến”, giữa một bên là tộc nội một bên là tộc ngoại.

Ngài Mục-Kiền-Liên dùng thần thông bay lên lấy cái bát bằng gỗ quý theo lời thách đố của một người. ”Nếu trên đời ai là A-la-hán thì hãy bay lên mà lấy cái bát và nó sẽ thuộc về người đó“. Chuyện đến tai Đức Phật, từ đó Đức Phật không cho phép lạm dụng thần thông!

Ông Bà-la-môn thấy Đức Phật có 32 tướng của bậc đại nhân nên quyết tâm gả con gái cho Ngài. Con gái của ông từ trước tới nay có rất nhiều người tới hỏi nhưng ông không đồng ý.

Nhưng Đức Phật từ chối.

Bị từ chối con gái ông Bà-la-môn ôm hận trong lòng và thề sẽ trả thù. Sau này cô ta làm vợ vua. Nhằm lúc Đức Phật và Ngài A Nan tới gần hoàng cung hoằng pháp, bà ta cho người tới chửi vả.

Ngoại đạo chôn xác gần tịnh xá vu khống cho Đức Phật và Tăng đoàn.

Nàng Chin-cha làm bụng giả vu khống Đức Phật.

Tướng cướp Vô Não cố ý giết mẹ để làm đủ bộ sưu tập ngón tay người, nhưng khi thấy Phật ông đổi ý muốn giết Ngài và ra lệnh Ngài đứng lại.

Ngài nói: ”Ta đã dừng lại từ lâu rồi còn ngươi thì chưa” – nghĩa là Ngài đã dừng sự sát sanh, dừng sanh tử luân hồi còn hắn thì chưa. Tên tướng cướp thức tỉnh xin xuất gia sau đó đắc quả A-la-hán.

Người đàn bà này tới xin Đức Phật làm cho con bà sống lại.
Ngài nói hãy tới xin hạt cải của nhà nào không có người chết ta sẽ làm cho con bà sống lại, bà đã tỉnh ngộ và xin quy y Tam Bảo.

Ngài A Nan xin nước của cô thôn nữ thuộc giai cấp Thủ-đà-la (giai cấp thấp nhất thời Ấn Độ bấy giờ).

 

“Không bao lâu thân này
Sẽ nằm dài trên đất
Bị vất bỏ vô thức
Như khúc cây vô dụng”.

Câu pháp cú Ngài đọc khi tới chăm sóc một Tỳ kheo già sắp qua đời. Khi Ngài đọc dứt câu kệ trên, vị Tỳ kheo già khai triển tuệ minh sát, đắc A-la-Hán Thánh quả và Nhập diệt sau đó.

Ngài Mục Kiền liên tới độ ông trưởng giả keo kiệt.

Cây Đại Bồ đề A-Nan

Vào những năm đói kém dân chúng mất mùa, việc khất thực gặp nhiều khó khăn. Mỗi vị sư và Đức Phật được cúng một nắm cám từ ông chủ ngựa có 500 con ngựa khi ông đi ngang qua đây.

Tăng đoàn bị chia rẽ vì vài sự tranh chấp nhỏ. Đức Phật một mình đi vào rừng và được chăm sóc bởi voi và thú rừng…

Devadatta (Đề-bà Đạt-đa) mưu toan làm hại Đức Phật bằng cách cho con voi Nalagiri uống rượu mạnh đến say rồi xua nó chạy ngay vào Đức Phật. Khi voi Nalagiri trở nên rất dữ tợn chạy vồ đến gần, thì Đại Đức A-nan-da, chạy ra đứng chặn trước, định hy sinh cho voi đạp mình để cứu nguy Đức Phật. Nhưng Đức Thế Tôn ngay lập tức đã dùng tâm “Từ ” (Metta) cảm hóa voi say.

Sau đó Devadatta âm mưu với Thái Tử Ajatasattu (A-Xà-Thế) toan sát hại Đức Phật. Ông khuyên Ajatasattu nên giết cha đoạt ngai vàng. Phần ông sẽ giết Đức Phật để nắm quyền chưởng quản Giáo Hội Tăng Già.
Kẻ bất hiếu, Ajatasattu, thành công mưu sát người cha có tâm đạo nhiệt thành. Còn Devadatta thì thuê những tay thiện xạ đi giết Đức Thế Tôn. Nhưng trái với điều ông mong muốn, tất cả những người được thuê ấy, lúc đến gần Đức Phật đều xin quy y Tam Bảo và theo Ngài. Mưu đồ bất thành, Devadatta quyết tâm chính ông ta sẽ ra tay sát hại Đức Phật.

Trong lúc Đức Phật đi bên sườn núi Gijjhakuta (Linh-Thứu), ông trèo lên đỉnh cao, xô một tảng đá to lăn xuống ngay Đức Phật. May thay, đá va nhằm một tảng đá khác, bể ra làm nhiều mảnh và chỉ có một mảnh vụn rơi nhẹ vào chân Đức Phật làm máu chảy. Vị lương y Jivaka liền đến săn sóc vết thương cho Ngài.

Vua Tỳ-Lưu-Ly đem quân chinh phạt dòng họ Thích Ca. Cả ba lần Vua đem quân đến, Đức Phật đều ngồi đó tĩnh tọa. Cả ba lần Vua đều hiểu ý đem quân trở về. Lần thứ tư vua cho quân đi ban đêm Đức Phật biết không thể cản được nghiệp mà dòng họ Thích đã tạo nên không xuất hiện nữa!

Đức Phật sắp nhập Niết Bàn dưới hai cây Sala.

Ngài A-Nan-Da ra dấu cho cụ già là Thế tôn đã mệt, nhưng Đức Phật vẫn ngồi dậy tiếp nhận ông cụ vào Tăng đoàn. Sau đó Ngài nhập Niết Bàn. Thân thể Ngài được hỏa thiêu – phân hủy và phát xuất ra rất nhiều Xá-lợi.

Phân chia Xá-lợi Phật.

Kết tập tam tạng lần thứ nhất.

Khắc kinh Phật truyền hậu thế.

(Source: Rungthienvienkhong.wordpress.com)

Về trang chủ TXC | Home page

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: